6. Tổng quan
6.1. Nhu cầu thực tiễn
Hiếp dâm là một vấn đề nhức nhối trong xã hội, vi phạm nghiêm trọng quyền con người và để lại những hậu quả nặng nề đối với nạn nhân nữ – đối tượng chính trong các vụ bạo lực giới và xâm hại tình dục. Thống kê cho thấy 98% các nạn nhân bị hiếp dâm là phụ nữ và trẻ em gái (Fletcher, 2026). Theo ước tính của UNICEF (2024), hơn 370 triệu phụ nữ và trẻ em trên thế giới đã từng bị hiếp dâm và xâm hại tình dục trước tuổi 18 tuổi. Tuy nhiên, số liệu thống kê các vụ hiếp dâm thường thấp hơn so với thực tế vì nhiều nạn nhân bị tấn công tình dục lựa chọn giữ im lặng thay vì báo cáo với cơ quan chức năng. Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như xấu hổ, sợ bị trả thù, luật pháp chưa đủ mạnh (World Population Review, 2025), trong đó nguyên nhân chính là áp lực tâm lý từ sự phán xét của xã hội (Reich và cộng sự, 2021). Các chính sách của nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn nạn hiếp dâm, song, nhận thức của cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng không thể thiếu.
Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, nhận thức và phản ứng của công chúng đối với nạn nhân bị hiếp dâm chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cách đưa tin của các phương tiện truyền thông. Nghiên cứu chỉ ra rằng những bài báo chứa ngôn từ đổ lỗi cho nạn nhân ở mức độ cao khiến người đọc có xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nhiều hơn so với những bài có mức độ đổ lỗi thấp (Gravelin và cộng sự, 2024). Hơn nữa, khi người tham gia tiếp xúc với một bài báo mang tính đổ lỗi cao, họ có xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân trong một vụ hiếp dâm khác không liên quan ở thời điểm sau đó và thể hiện sự đồng tình mạnh mẽ hơn với các những quan niệm sai lầm về hiếp dâm (rape myths) (Gravelin và cộng sự, 2024). Bên cạnh đó, cách đưa tin một chiều và thiếu trung lập có thể vô tình làm trầm trọng thêm nỗi đau của nạn nhân và khiến cho họ trở thành tâm điểm chỉ trích của công chúng (Hương, 2012). Dù đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nhận thức công chúng như vậy, tuy nhiên trên thực tế, thay vì đưa những tin tức trung lập và đồng cảm với nạn nhân, truyền thông lại liên tục có những cách đưa tin theo kiểu củng cố và duy trì những định kiến về hiếp dâm bằng cách tập trung vào hành vi và trách nhiệm của nạn nhân, ám chỉ các hành động như uống rượu, tán tỉnh hoặc xuất hiện sai thời gian, sai địa điểm là nguyên nhân dẫn đến bạo lực tình dục (Serisier, 2016). Những kiểu đưa tin tiêu cực và sai lệch như vậy không chỉ ngăn cản sự phát triển các chính sách nhằm giải quyết vấn đề hiếp dâm mà còn làm chậm nỗ lực của cộng đồng trong việc xóa bỏ vấn nạn này (Aroustamian, 2019). Vì báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc định hình nhận thức xã hội về hiếp dâm, nạn nhân và thủ phạm, nghiên cứu cách báo chí đưa tin về hiếp dâm và xem xét liệu cách đưa tin ấy có đang củng cố các huyền thoại hiếp dâm (rape myths) hay không góp phần nâng cao nhận thức công chúng khi tiêu thụ một ấn phẩm báo chí, đồng thời kêu gọi cách đưa tin có trách nhiệm hơn về vấn đề bạo lực tình dục của những người làm truyền thông. Nghiên cứu chọn đưa tin trên báo điện tử thay vì báo in vì báo điện tử là loại hình báo chí được người đọc tiếp cận rộng rãi nhất.
Tại Việt Nam, dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng Nho giáo, hiếp dâm vẫn được xem là một chủ đề nhạy cảm thuộc diễn ngôn cấm kỵ (taboo discourse) mà mọi người thường tránh thảo luận nhiều. Tâm lý tránh đối diện trực tiếp với vấn đề này cũng là một rào cản gây thách thức cho việc xóa bỏ vấn nạn hiếp dâm vì khi vấn đề không được đưa ra ánh sáng để tìm hiểu nguyên nhân sâu xa, thì những gốc rễ sản sinh ra nó vẫn nguyên vẹn tồn tại và tiếp tục vận hành trong im lặng. Chính vì lý do đó, nghiên cứu của tôi tập trung vào phân tích cách báo điện tử đưa tin về hiếp dâm và nạn nhân bị hiếp dâm trong bối cảnh Việt Nam với mong muốn làm sáng tỏ động cơ đằng sau hành vi hiếp dâm, từ đó phần nào gỡ bỏ được những định kiến xã hội dai dẳng đang tiếp tục đổ lỗi và phán xét nạn nhân, hướng người đọc đến một nhận thức đúng đắn và công bằng hơn về bạo lực tình dục.
Vì hiếp dâm là một loại bạo lực giới (gender-based violence) nên việc tiếp cận theo hướng diễn ngôn phê phán giúp nhìn ra các vấn đề liên quan đến ý thức hệ về vai trò giới và chuẩn mực giới trong xã hội gia trưởng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo. Hơn thế nữa, với đặc trưng điều hướng dư luận của truyền thông, phân tích diễn ngôn phê phán còn giúp bóc trần được quyền lực từ trên xuống (top-down relations of dominance) nơi truyền thông có quyền định hình nạn nhân được nhìn nhận như thế nào trong nhận thức cộng đồng.
6.2. Tổng quan tài liệu công trình nghiên cứu liên quan
6.2.1. Truyền thông đưa tin về nạn nhân bị hiếp dâm
Thông thường, truyền thông khi đưa tin về hiếp dâm có xu hướng giật gân hóa loại tội phạm bạo lực này (Sacks và cộng sự, 2017). Trên thế giới, các nghiên cứu về cách truyền thông khắc họa nạn nhân hiếp dâm cho thấy những khuôn mẫu mang tính gây hại xuất hiện nhất quán ở nhiều bối cảnh văn hóa khác nhau. Một nghiên cứu sử dụng lý thuyết khung (framing theory) và phân tích nội dung định tính để xem xét việc đưa tin về Weinstein, Cosby và Turner trên The Washington Post và The New York Times giai đoạn 2014-2018 cho thấy các bản tin thường sử dụng cách nói giảm nói tránh (euphemisms), củng cố các định kiến về hiếp dâm và thiên vị thủ phạm (Aroustamian, 2019). Cuklanz (2020) phân tích cách truyền thông đại chúng tái hiện hiếp dâm và xâm hại tình dục, đồng thời chỉ ra rằng truyền thông thường tập trung vào các vụ hiếp dâm do người lạ thực hiện với mức độ bạo lực cực đoan bởi những cá nhân bị xem là rối loạn tâm thần, trong khi trên thực tế phần lớn các vụ việc được thực hiện bởi người quen của nạn nhân. Hơn nữa, tiếng nói của nạn nhân không được đặt ở vị trí trung tâm trong các câu chuyện về hiếp dâm (Cuklanz, 2020). Một phân tích từ vựng về các bài báo liên quan đến ba sự kiện tin tức trong truyền thông Anh và Mỹ cho thấy phần lớn các bài viết củng cố các rape myths thông qua việc đổ lỗi cho nạn nhân hoặc khắc họa thủ phạm như từ một “con quái vật” bệnh hoạn, trong khi bỏ qua trải nghiệm của nạn nhân. Những cách tái hiện mang tính khuôn mẫu này làm giật gân hóa bạo lực tình dục và che khuất các gốc rễ mang tính hệ thống và xã hội của vấn đề (O’Hara, 2012). Trong cuốn sách Virgin or Vamp: How the Press Covers Sex Crimes, Benedict (1992) phân tích cách báo
in Mỹ đưa tin về hiếp dâm và tội phạm tình dục, cho rằng các nhà báo thường ép nạn nhân vào hai khuôn mẫu đạo đức: “virgin” – người phụ nữ ngây thơ, trong trắng, đáng được cảm thông; và “vamp” – người phụ nữ lẳng lơ mà hành vi của cô bị cho là đã kích thích hoặc dẫn đến vụ tấn công. Sử dụng Phân tích diễn ngôn phê phán dựa trên hệ thống chuyển tác của Halliday và phân tích cách gọi tên (naming analysis), nghiên cứu về các tiêu đề báo mạng Morocco liên quan đến hiếp dâm phát hiện rằng ngôn ngữ được sử dụng thường nhấn mạnh độ tuổi của cả nạn nhân lẫn thủ phạm, khắc họa nạn nhân như những người bất lực và ngây thơ, đồng thời gợi lên hình ảnh kinh hoàng về tội ác trong tâm trí độc giả (Biadi & Fallaki, 2023).
Trong bối cảnh Việt Nam, Weaver (2010), trong cuốn Ideologies of Forgetting: Rape in the Vietnam War, cho rằng các chủ thể sản xuất diễn ngôn văn hóa, bao gồm những người làm truyền thông, đã góp phần xóa bỏ, lãng quên hoặc phớt lờ các vụ hiếp dâm và bạo lực tình dục do quân đội Mỹ gây ra đối với nữ chiến sĩ Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam. Theo bà, quá trình này nhằm bảo vệ hình ảnh của các cựu binh Mỹ và duy trì huyền thoại về chủ nghĩa ngoại lệ Mỹ (American exceptionalism) (Weaver, 2010). Bên cạnh đó, nghiên cứu dân tộc học của Hương (2012) về hiếp dâm trên báo in Việt Nam cho thấy truyền thông thường phản ánh những quan niệm phổ biến như sự phân đôi “gái ngoan/ gái hư” (good girl/bad girl) và các tư tưởng gia trưởng về “vai trò đúng mực” của phụ nữ. Những quan niệm này củng cố các hiểu lầm về bạo lực tình dục và biến nạn nhân thành đối tượng bị chỉ trích, mặc dù trong một số trường hợp truyền thông cũng tạo diễn đàn để tìm kiếm công lý (Hương, 2012).
6.2.2. Sự xuất hiện huyền thoại hiếp dâm trong cách truyền thông đưa tin về xâm hại tình dục
Những người làm truyền thông thường đưa ra những lời giải thích về nguyên nhân xảy ra bạo lực tình dục bằng cách tập trung vào hành vi của nạn nhân, ngụ ý rằng nếu cô ấy hành xử khác đi, phù hợp với các vai trò nữ tính được xã hội chấp nhận thì cô ấy đã không bị tấn công (Meyers, 1997). Ví dụ, các bản tin cho rằng một phụ nữ không thể nhớ lại vụ việc vì cô ấy say rượu ngầm ám chỉ rằng “cô ấy đang nói dối” (she lied) và rằng vụ hiếp dâm sẽ không xảy ra nếu cô ấy không say rượu (Meyers, 1997). Một phân tích nội dung đối với 555 tiêu đề báo trực tuyến của truyền thông Mỹ đưa tin về vụ cáo buộc tấn công tình dục liên quan đến Kobe Bryant giai đoạn 2003-2004 cho thấy 10% tiêu đề ủng hộ rape myths, trong đó phổ biến nhất là “cô ấy nói dối” (she lied), tiếp theo là “cô ấy muốn điều đó” (she wanted it) (Franiuk et al., 2008). Mọi tiêu đề trong mẫu nghiên cứu đều chứa ít nhất một rape myth, phổ biến nhất là “cô ấy tự chuốc lấy” (she asked for it) và “hiếp dâm không phải vấn đề nghiêm trọng” (rape is trivial) (Franiuk et al., 2008). Tương tự, O’Hara (2012), thông qua phân tích từ vựng các bài báo về ba vụ hiếp dâm ở Anh và Mỹ bao gồm Liddell, Cleveland và Marsalis, phát hiện rằng cách đưa tin của báo chí liên tục nhấn mạnh vào việc nạn nhân uống rượu, cách ăn mặc và quyết định đi chơi với người lạ, qua đó chuyển trách nhiệm sang phía nạn nhân một cách tinh vi (O’Hara, 2012). Tương tự, một nghiên cứu phân tích các chương trình
truyền hình tội phạm hư cấu và thực tế phát sóng trên năm kênh truyền hình Mỹ hướng tới khán giả nữ cho thấy các chương trình này lan truyền nhiều rape myths, bao gồm quan niệm rằng hiếp dâm chủ yếu do người lạ thực hiện; rằng chỉ những “phụ nữ hư hỏng” (những người ăn mặc gợi cảm, uống rượu hoặc hành nghề mại dâm) mới bị hiếp dâm; rằng cô ấy nói “không” nhưng thực chất là “có”; rằng những kẻ hiếp dâm bị rối loạn tâm thần; và việc nạn nhân chậm trình báo đồng nghĩa với cáo buộc sai sự thật (Merken & James, 2019). Ngoài ra, một nghiên cứu phân tích 112.369 tweet được đăng trong bốn tháng bằng các từ khóa liên quan đến hiếp dâm và xâm hại tình dục cho thấy 44-48% số tweet cáo buộc phụ nữ nói dối về việc bị hiếp dâm (Stabile et al., 2019). Nhìn chung, những phát hiện này cho thấy rape myths phổ biến rộng rãi trên nhiều hình thức truyền thông khác nhau, bao gồm truyền hình, báo chí và mạng xã hội.
Có thể thấy, trên thế giới, đã có nhiều học giả nghiên cứu về hiếp dâm và sự xuất hiện của các huyền thoại hiếp dâm trên cả báo in và báo điện tử. Tuy nhiên, nghiên cứu về chủ đề này ở Việt Nam còn hạn chế. Các nghiên cứu về hiếp dâm xảy ra tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào hiếp dâm liên quan đến phân biệt chủng tộc, kỳ thị phụ nữ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam như nghiên cứu của Weaver (2010), Turse (2013). Bên cạnh đó, nghiên cứu về hiếp dâm trên báo in lựa chọn phương pháp dân tộc học (ethnography) của Hương (2012) đã được tiến hành cách thời điểm hiện tại tương đối lâu. Theo hiểu biết của tôi, từ khoảng thời gian đó, tức từ năm 2012 đến nay, tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào tiếp cận theo hướng phân tích diễn ngôn phê phán để xem xét hiếp dâm được định khung như thế nào trên báo điện tử đương đại. Dù trên thế giới, nghiên cứu của Biadi & Fallaki (2023) tiếp cận theo hướng phân tích diễn ngôn phê phán nhưng mới chỉ dừng lại ở phân tích tiêu đề (headlines), chưa đi sâu vào nội dung bên trong của bài báo, khiến góc nhìn có thể bị thiếu chiều sâu. Vì những lý do đó, nghiên cứu của tôi đóng góp vào nghiên cứu hiện có trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và truyền thông về hiếp dâm bằng cách áp dụng phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán nhằm khám phá cách báo điện tử Việt Nam miêu tả nạn nhân nữ bị hiếp dâm và xem xét liệu cách khắc họa ấy có đang củng cố rape myths hay không.
6.3. Ý nghĩa khoa học
Như đã đề cập ở trên, nghiên cứu về hiếp dâm tại Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt trong lĩnh vực phân tích diễn ngôn. Vì vậy, nghiên cứu này đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và truyền thông tại Việt Nam bằng cách áp dụng khung phân tích diễn ngôn phê phán để phân tích văn bản báo chí. Thông qua cách tiếp cận này, nghiên cứu không chỉ làm rõ cách truyền thông tái hiện nạn nhân bị hiếp dâm mà còn giúp nhận diện những ý thức hệ và quan hệ quyền lực ẩn sau các diễn ngôn truyền thông. Từ đó, nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức của độc giả về vấn nạn hiếp dâm, đồng thời khuyến khích tư duy phản biện khi tiếp nhận các sản phẩm truyền thông nói chung và các bài báo nói riêng, nhằm tránh bị ảnh hưởng bởi những thiên kiến mà truyền thông có thể vô tình hoặc cố ý định khung.
