Ảnh hưởng của tăng trưởng xanh lên phát triển kinh tế của tiểu vùng sông Mekong

Trang chủ / Ngân hàng ý tưởng

6. Tổng quan 

6.1. Nhu cầu thực tiễn 

Biến đổi khí hậu, một trong những vấn đề toàn cầu, được đánh giá là “vấn đề của thời đại chúng ta” (United Nations, n.d.) đã và đang ảnh hưởng đến nhiều  quốc gia và khu vực trên thế giới, trong đó có Tiểu vùng sông Mekong. Những  tác động như thay đổi lượng mưa,nước biển dâng, hạn hán và thay đổi nhiệt độ,  đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống người dân trong bối cảnh các hoạt động  phát triển kinh tế, xã hội, khai thác tài nguyên ở khu vực này còn phụ thuộc nhiều  vào nguồn lợi từ sông Mekong (Evers & Pathirana, 2018). Theo Uỷ ban Liên  chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2021), biến đổi khí hậu chịu tác động lớn  từ con người, và những nỗ lực hành động của con người có khả năng mang tính  quyết định đối với khí hậu toàn cầu. Vì vậy, năm 2015, Liên hợp quốc thông qua  Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển bền vững, nhấn mạnh các nhiệm vụ phát  triển, giảm bất bình đẳng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phải đi đồng thời với giải  quyết vấn đề biến đổi khí hậu và nỗ lực bảo tồn đại dương và rừng, (United  Nations, n.d.) thể hiện quyết tâm và tính cấp thiết của việc phát triển bền vững. 

Trong bối cảnh các quốc gia phải vừa tìm cách đảm bảo tăng trưởng kinh  tế, vừa phải giải quyết, giảm thiểu những rủi ro từ biến đổi khí hậu, tăng trưởng  xanh nổi lên như một nỗ lực trong chính sách được nhắc đến như một hướng đi  trong các chính sách quốc gia và quốc tế cũng như các chương trình phát triển  bền vững (Hickel & Kallis, 2019). Tăng trưởng xanh, trong đó cho phép giải  quyết những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái mà vẫn đảm bảo phúc lợi  con người, tăng trưởng kinh tế, được kì vọng trở thành giải pháp tất yếu cho sự  phát triển của các quốc gia trên thế giới trong dài hạn (Bowen & Hepburn, 2014).  Đối với các quốc gia đang phát triển như các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong,  việc đưa tăng trưởng xanh vào mục tiêu phát triển là rất quan trọng để hài hòa  giữa giảm nghèo, phát triển kinh tế và sử dụng tài nguyên hiệu quả, bảo vệ hệ  sinh thái khu vực (Houssini & Geng, 2021). Do đó, tăng trưởng xanh cho thấy ý  nghĩa và tầm quan trọng trong cả chiến lược phát triển kinh tế và ứng phó với  biến đổi khí hậu. 

Sự phổ biến và vai trò của tăng trưởng xanh trong chính sách lại đặt ra nhu  cầu nghiên cứu những ảnh hưởng của nó lên sự phát triển kinh tế của các quốc  gia. Nhiều nghiên cứu sâu về ứng dụng và tác động của tăng trưởng xanh đã được  tiến hành (Khan và các cộng sự, 2025), trong đó không thể thiếu những nghiên  cứu về tác động lên sự phát triển kinh tế do chính nội hàm của nó. 

Tuy nhiên, trong khi những nghiên cứu về tác động của tăng trưởng xanh  lên sự phát triển kinh tế còn tồn tại những hạn chế nhất định (Khan và các cộng  sự, 2025), những nghiên cứu tập trung phân tích về các quốc gia thuộc tiểu vùng  sông Mekong cũng chưa nhận được sự quan tâm tương xứng. Những nghiên cứu  về tăng trưởng xanh ở khu vực này chủ yếu tập trung vào các khía cạnh liên quan 

như phát triển bền vững về năng lượng (Liu & Liang, 2019), kinh tế tuần hoàn  (He & Mai, 2021), thủy điện (Pittock và các cộng sự, 2016). Từ đó đặt ra sự cần  thiết có những nghiên cứu tập trung về những ảnh hưởng của tăng trưởng xanh  lên sự phát triển kinh tế của các quốc gia khu vực này. 

Vì vậy, nghiên cứu này hướng tới việc cung cấp thêm bằng chứng thực  nghiệm về những tác động của tăng trưởng xanh bằng việc tập trung xem xét  những ảnh hưởng của tăng trưởng xanh lên phát triển kinh tế của các quốc gia  tiểu vùng sông Mekong, cụ thể là sáu nước Việt Nam, Lào, Campuchia,  Myanmar, Trung Quốc và Thái Lan. 

6.2. Tổng quan tài liệu công trình nghiên cứu liên quan 

Trong bối cảnh tăng trưởng xanh nổi lên như một hiện tượng của các chiến  lược phát triển toàn cầu và xuất hiện các nghiên cứu liên quan, cả lý thuyết và  thực nghiệm, mặc dù số lượng còn hạn chế (Ferreira et al., 2025; Khan et al.,  2025), các nghiên cứu cũng đề cập đáng kể đến những ảnh hưởng của nó đến sự  phát triển kinh tế. Trong đó, nghiên cứu này nhìn nhận các nhà nghiên cứu chủ  yếu tập trung vào hai hướng nghiên cứu chính: (1) Các nghiên cứu về tác động  của từng khía cạnh cụ thể của tăng trưởng xanh đến phát triển kinh tế, (2) Các  nghiên cứu về tác động tổng thể của tăng trưởng xanh lên phát triển kinh tế. 

6.2.1. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của những khía cạnh của tăng trưởng  xanh lên phát triển kinh tế 

6.2.1.1. Đổi mới sáng tạo, tiến bộ công nghệ và chuyển đổi xanh Để bắt đầu, một số nghiên cứu tập trung xem xét ảnh hưởng của những  đổi mới sáng tạo, tiến bộ và chuyển giao công nghệ cũng như chuyển đổi xanh  trong tăng trưởng xanh đến sự phát triển kinh tế và một số đang kể ghi nhận  những tín hiệu tích cực. Ahmed và Elfaki (2024), trong nghiên cứu thực nghiệm  tại 15 quốc gia khu vực châu Á, Thái Bình Dương và Mỹ Latinh đã chỉ ra những  ảnh hưởng tích cực và vai trò của đổi mới và hợp tác chuyển giao công nghệ, đặc  biệt là công nghệ số trong tăng trưởng xanh và tăng trưởng, phát triển kinh tế dài  hạn. Tương tự, Fernandes và cộng sự (2021), bằng phương pháp ước tính các mô  hình kinh tế lượng dựa trên phương pháp bảng dữ liệu động đã nghiên cứu trên  dữ liệu của 32 quốc gia 1990 đến năm 2013 và cho ra kết luận rằng tăng trưởng  kinh tế được hưởng lợi tích cực bởi việc chuyển giao công nghệ phát triển bền  vững và đổi mới thúc đẩy tăng trưởng xanh. Ở quy mô quốc gia, Khan và các  cộng sự (2025) đã nghiên cứu với dữ liệu của Pakistan trong hơn 20 năm bằng  khung kinh tế lượng và cho ra kết luận rằng sự phát triển kinh tế chịu ảnh hưởng  tích cực đáng kể từ phát triển công nghệ môi trường, đầu tư, xuất khẩu công nghệ.  Trong khi đó, ở cấp độ vùng miền quốc gia, tại Trung Quốc, Li và cộng sự (2024),  với mô hình hồi quy Tobit sử dụng dữ liệu bảng từ 2010 đến 2020, đã tìm hiểu  cơ chế nội tại của tác động của đổi mới công nghệ xanh đến chất lượng phát triển  kinh tế. Kết quả cho thấy đổi mới công nghệ xanh có ảnh hưởng tích cực, cụ thể 

là giúp nâng cao chất lượng phát triển kinh tế, tuy có sự khác biệt giữa các vùng.  Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Su và Gao (2022) khi xem  xét tác động của các yếu tố như công nghệ môi trường xanh, đổi mới tài chính và  quy định môi trường. 

Mặt khác, một số nghiên cứu lại cho kết quả về mặt trái của những nỗ lực  phát triển công nghệ xanh và chuyển đổi xanh lên phát triển kinh tế. Điều này  được cho là nổi bật với các quốc gia đang phát triển, như trong nghiên cứu của  của Zhang và cộng sự (2023), tuy cho thấy những tác động tích cực của hiệu ứng  lan tỏa công nghệ nhưng cũng chỉ ra nó gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến  phát triển kinh tế một số thành phố vùng như Đông và Đông Bắc Trung Quốc.  Điều này có lẽ được lý giải một phần qua công trình của Ferriani và cộng sự  (2024), bằng việc nghiên cứu bộ dữ liệu bằng sáng chế Hoa Kỳ, rằng việc chuyển  đổi công nghệ xanh, trong ngắn hạn làm sụt giảm sản lượng và giảm nguồn cung;  hay tác động đến chi phí sản xuất, làm tăng chênh lệch thu nhập như kết quả của  Kattan và cộng sự (2021). 

6.2.1.2. Năng lượng thân thiện và hiệu quả sử dụng tài nguyên Năng lượng cũng như tài nguyên thiên nhiên là một động lực quan trọng  cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế (Foxon, 2013; GGGI, 2020;  OECD, 2011), vì vậy việc sử dụng hiệu quả tài, bền vững tài nguyên và các nguồn  năng lượng thân thiện môi trường cũng có những tác động đáng kể lên phát triển  kinh tế. Một số nghiên cứu đã cho thấy những tác động tích cực lên phát triển  kinh tế của việc tiêu thụ các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là với sự hỗ trợ  của công nghệ (Xie và các cộng sự, 2020), như công trình sử dụng phương pháp  hồi quy phân vị và bình phương tối thiểu của Hieu và Mai (2023) lên dữ liệu của  80 quốc gia đang phát triển từ 1990 đến 2020 hoặc công trình nghiên cứu 34 nước  thuộc OECD trong khoảng 1990-2010, sử dụng dữ liệu bảng của Inglesi-Lotz  (2016). Tuy nhiên, ảnh hưởng của năng lượng tái tạo có thể khác nhau tùy vào  điều kiện thực thế, có thể là tác động tích cực với điều kiện tỉ lệ tiêu thụ phải nằm  trong một phạm vi phù hợp (Xie và các cộng sự, 2020) hoặc tác động tiêu cực  lên các nền kinh tế thu nhập cao do chi phí tái cấu trúc, trong khi tích cực lên các  nước thu nhập thấp và trung bình thấp (Dogan và các cộng sự, 2020). Thêm vào đó, ảnh hưởng lên phát triển kinh tế của việc sử dụng tài nguyên  hợp lý và hiệu quả cũng đã được tìm hiểu bởi các công trình nghiên cứu. Nghiên  cứu của Ekins và các cộng sự (2016) đã cho rằng việc sử dụng hiệu quả và hợp  lý tài nguyên có thể đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế  toàn cầu. Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa hiệu quả sử  dụng tài nguyên thiên nhiên với tăng trưởng kinh tế của Qiu và các cộng sự (2023)  đã xem xét dữ liệu của một số nước châu Á trong khoảng 10 năm từ 2010 và tìm  thấy mối liên hệ tích cực. Ở một góc nhìn khác, điều này đã được ngụ ý bởi  Barbier (2003) khi đề cập trong một nghịch lý rằng những nước giàu tài nguyên 

nhưng kinh tế kém phát triển do một nguyên nhân quan trọng là quản lý và sử  dụng tài nguyên kém hiệu quả. 

Ở chiều ngược lại, việc áp dụng một số chính sách xanh có thể ảnh hưởng  tiêu cực đến sự phát triển kinh tế. Trong đó, nghiên cứu của Macdonald và  Patrinos (2021) dựa trên nguồn dữ liệu có sẵn từ OECD đã chỉ ra rằng việc áp  dụng chính sách định giá carbon như thuế carbon tại các nước có thể dẫn tới việc  suy giảm sản lượng, thiếu hụt nguồn cung và gia tăng chênh lệch thu nhập. Xem  xét ở cấp độ quốc gia, cụ thể là Trung Quốc, nghiên cứu thực nghiệm của Kuang  và Lin (2022) cho thấy những ảnh hưởng tiêu cực của các chính sách môi trường  của nước này tới tăng trưởng sản lượng, năng suất và việc làm, đặc biệt ở những  ngành sản xuất phụ thuộc vào tài nguyên truyền thống, ít nhất là trong ngắn hạn. 

6.2.2. Các nghiên cứu ảnh hưởng tổng thể của tăng trưởng xanh lên phát triển  kinh tế 

Những tác động chung của tăng trưởng xanh đến sự phát triển kinh tế của  các quốc gia cũng đã được chỉ ra bởi một số công trình nghiên cứu. Và những tác  động mang tính khác biệt, cả tích cực và tiêu cực, tùy thuộc vào đối tượng, phạm  vi cũng như những phương pháp cụ thể được các tác giả sử dụng. 

Một số nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra mối tương quan tích cực, tuy  không đồng nhất giữa tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế. Cụ thể, nghiên cứu  thực nghiệm của Ferreira và các cộng sự (2025) đã thu thập dữ liệu của 172 quốc  gia năm 2020 và tiến hành sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính, ước tính  bằng phương pháp bình phương tối thiểu. Kết quả cho thấy các chỉ số tăng trưởng  xanh có tác động tích cực lên sự phát triển kinh tế của các quốc gia thuộc nhóm  thu nhập cao, trung bình-cao và trung bình-thấp, nhưng lại tác động tiêu cực đối  với trường hợp các nước có thu nhập thấp. Điều này cũng có phần tương tự với  nghiên cứu của Xu và các cộng sự (2022) với trường hợp các quốc gia thuộc khối  BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, và Nam Phi) khi cho ra kết luận rằng  tăng trưởng xanh có ảnh hưởng không đồng đều lên hiệu quả kinh tế của các nước  này. Những chỉ số trong chỉ số chung của tăng trưởng xanh cũng có thể cho thấy  ảnh hưởng khác nhau lên sự phát triển kinh tế, như kết quả nghiên cứu của Onsay  (2021): trong khi chỉ số về chất lượng môi trường sống và năng suất của tài  nguyên và môi trường cho thấy ảnh hưởng tích cực, bối cảnh xã hội, chính sách  và cơ hội kinh tế lại ảnh hưởng theo chiều ngược lại đối với sự phát triển của bốn  nước ASEAN (Indonesia, Campuchia, Philippines và Singapore). 

Một số nghiên cứu lại cho thấy tác động tiêu cực của tăng trưởng xanh lên  phát triển kinh tế. Trong tác phẩm “Is Green Growth Possible?”, Hickel & Kallis  (2020) đã thể hiện sự nghi ngờ và chỉ trích tính tính khả thi của việc tách rời sự  phát thải với tăng trưởng kinh tế của tăng trưởng xanh và, nghiên cứu, dựa trên  những bằng chứng thực nghiệm cũng ngụ ý rằng tăng trưởng xanh có thể ảnh  hưởng xấu và đến phát triển kinh tế và cả môi trường, nhất là trong dài hạn khi 

việc tách rời không thể duy trì. Trong khi đó, tập trung vào tác động của tăng  trưởng xanh đến khía cạnh con người của phát triển kinh tế, công trình của  Dercon (2014) cũng chỉ ra khả năng rằng tác động của tăng trưởng xanh hiện có  thể sẽ có ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến việc phát triển kinh tế và xóa đói giảm  nghèo do phải đánh đổi lấy môi trường. 

6.2.3 Khoảng trống nghiên cứu 

Dựa trên các tài liệu hiện có, tác động của tăng trưởng xanh đến phát triển  kinh tế đã được nhiều nghiên cứu trước đây xem xét trên nhiều phương pháp,  phạm vi và đối tượng khác nhau. Tuy nhiên, do nghiên cứu về tăng trưởng xanh  và ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế còn hạn chế, nên vẫn còn một số  khoảng trống nghiên cứu. 

Thứ nhất, các chỉ số đo lường tăng trưởng xanh và phát triển kinh tế được  sử dụng trong các nghiên cứu chưa có sự thống nhất rõ ràng. Trong nghiên cứu  của Xu và các cộng sự (2022), tác giả sử dụng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)  như một thước đo gián tiếp cho hiệu quả kinh tế, trong khi Onsay (2021) sử dụng  GDP và GNI làm chỉ số đại diện cho phát triển kinh tế và bộ chỉ số tăng trưởng  xanh của OECD còn nghiên cứu của Ferreira et al. (2025) sử dụng HDI và bộ chỉ  số tăng trưởng xanh của GGGI. Điều này có thể là do sự thiếu hụt các nghiên cứu  thực nghiệm và các phân tích chuyên sâu, nhất quán về quan điểm và về các  thước đo tăng trưởng xanh. 

Thứ hai, các nghiên cứu chỉ tiến hành trên giới hạn phạm vi và đối tượng  nhất định. Điển hình như nghiên cứu bao gồm nhiều quốc gia, thuộc nhiều nhóm  thu nhập, nhưng chỉ tiến hành trên dữ liệu của năm 2020 (Ferreira et al. 2025),  hoặc tiến hành hồi quy bảng trên dữ liệu chuỗi thời gian của các quốc gia cụ thể  thuộc các nhóm thu nhập khác nhau nhưng chỉ giới hạn trong bốn nước cùng khu  vực (Onsay, 2021) và loại bỏ một trong số những chỉ số tăng trưởng xanh của  OECD. Lý do có thể được kể đến là sự hạn chế và thiếu hụt về mặt dữ liệu trong  các bộ chỉ số, ví dụ như chỉ số tăng trưởng xanh được Ferreira et al. (2025) sử  dụng còn mới và chỉ có sẵn đầy đủ dữ liệu trong một năm, còn Onsay (2021) phải  loại bỏ chỉ số “Cơ sở tài sản tự nhiên” vì thiếu dữ liệu. 

Như vậy, nghiên cứu này dự định tiến hành trên cơ sở dữ liệu thứ cấp có  sẵn mới nhất vào năm 2025, được bổ sung đầy đủ hơn và tiến hành trên đối tượng  có phạm vi nhỏ hơn về mặt không gian (giới hạn trong ba nước tiểu vùng sông  Mekong cùng thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp) và thời gian (dữ liệu từ 2019  đến 2024). Qua đó, nghiên cứu kỳ vọng cung cấp cái nhìn và bằng chứng thực  nghiệm về ảnh hưởng chung của tăng trưởng xanh lên sự phát triển kinh tế của  các quốc gia và khu vực. 

6.3. Ý nghĩa khoa học 

Về mặt lý luận và phương pháp, nghiên cứu kỳ vọng đem đến cách tiếp  cận mới cũng như bổ sung một số bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu về 

tăng trưởng xanh. Về mặt thực tiễn, thông qua kết quả công việc, nghiên cứu kỳ  vọng đưa ra một số hàm ý chính sách mang tính tham khảo để giúp các quốc gia  tiểu vùng sông Mekong tới gần hơn mục tiêu tăng trưởng xanh trong khi đảm  bảo phát triển kinh tế.